Luật sư Nguyễn Chí Thiện

Email: nctlawyer@gmail.com

Hotline: (+84) 902 980 948  

CÁC TRƯỜNG HỢP TẠM GIỮ VÀ THỜI GIAN TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Trong pháp luật hình sự, tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn quan trọng do cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời kiểm soát hành vi phạm tội, bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành theo quy định của pháp luật. Việc xác định đúng các trường hợp được phép tạm giữ và tuân thủ chặt chẽ thời gian tạm giữ theo quy định của pháp luật hình sự không chỉ góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội mà còn là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tránh tình trạng lạm dụng hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn trái pháp luật.

I. CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

II. CÁC TRƯỜNG HỢP BỊ TẠM GIỮ VÀ THỜI HẠN TẠM GIỮ

1. Các trường hợp bị tạm giữ

Tạm giữ là biện pháp chỉ được áp dụng trong những điều kiện luật định, nhằm tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá ban đầu về dấu hiệu phạm tội và sự liên quan của người bị bắt đối với vụ án. Nếu qua xác minh không đủ căn cứ pháp lý thì người bị tạm giữ phải được chấm dứt việc tạm giữ và trả tự do kịp thời.

Căn cứ theo khoản 1, Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tạm giữ có thể áp dụng đối với:

a. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;

b. Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang;

c. Người phạm tội tự thú, đầu thú;

d. Người bị bắt theo quyết định truy nã.

2. Thời hạn tạm giữ

Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

a. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.

b. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Như vậy, thời hạn tạm giữ tối đa là 9 ngày. Trường hợp quá thời hạn tối đa nhưng không đủ căn cứ khởi tố thì trả tự do cho người bị tam giữ.

III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ

Trong thời gian bị tạm giữ, người bị tạm giữ vừa được pháp luật bảo đảm các quyền cơ bản nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, vừa phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định theo quy định để phục vụ cho hoạt động tố tụng và bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình giải quyết vụ án.

1. Quyền của người bị tạm giữ

Theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 59 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, người bị tạm giữ có quyền:

a. Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

b. Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

c. Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

d. Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

e. Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

f. Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

g. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.

2. Nghĩa vụ của người bị tạm giữ

Bên cạnh các quyền được pháp luật bảo đảm, người bị tạm giữ còn phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành đúng trình tự, thủ tục.

Căn cứ khoản 3 Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bị tạm giữ có nghĩa vụ chấp hành giấy triệu tập của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có dấu hiệu bỏ trốn thì có thể bị áp giải hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn theo quy định. Đồng thời, người bị tạm giữ phải chấp hành các quyết định, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và tuân thủ nội quy của cơ sở tạm giữ theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.

IV. TỔNG KẾT

Như vậy, việc xác định đúng các trường hợp được áp dụng biện pháp tạm giữ và tuân thủ chặt chẽ thời hạn tạm giữ theo quy định của pháp luật hình sự không chỉ góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động tố tụng mà còn là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phòng ngừa tình trạng lạm dụng biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trường hợp còn vướng mắc hoặc cần tư vấn cụ thể về các vấn đề liên quan đến tạm giữ, thời hạn tạm giữ và các quyền, nghĩa vụ phát sinh, quý khách hàng có thể đến John Nguyễn để được hỗ trợ, tư vấn kịp thời và đúng quy định pháp luật


Luật sư Nguyễn Chí Thiện