Bà Trần Thị Mai Anh ở phường Thạnh Phước, TX. Tân Uyên hỏi:

Ông bà ngoại tôi mất nhưng không để lại di chúc. Đất ông bà ngoại tôi ở từ xưa đến nay vẫn chưa có giấy chủ quyền. Ông bà ngoại tôi có 06 người con. Trong đó, mẹ tôi và cậu Năm của tôi đã qua đời. Còn lại 02 dì và 02 cậu. Nay vì muốn biết được khi mảnh đất trên đi làm giấy chủ quyền thì ai sẽ đứng tên và khi bán tôi có được thừa hưởng phần của mẹ tôi không?

Xin chào bà Trần Thị Mai Anh

Tình huống này bà chưa nêu rõ hai vấn đề:

Đất của ông bà ngoại bà có nguồn gốc hợp pháp và đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai hay không. Cậu Năm của bà có vợ, con gì hay không? Ngoài ra, cũng cần phải xem xét vấn đề thời hiệu về thừa kế có còn hay không, để có thể khởi kiện xin chia thừa kế.

Giả sử đất của ông bà ngoại bà để lại có nguồn gốc hợp pháp, đủ điều kiện để được cấp giấy, và còn thời hiệu thừa kế, thì còn lưu ý về vấn đề thứ hai, đó là ông bà ngoại của bà mất vào năm nào. Xác định điều này để làm căn cứ thời điểm mở thừa kế của ông bà ngoại của bà. Vì theo như bà nêu thì mẹ và cậu Năm của bà cũng đã mất. Cần xác định mất trước hay sau ông bà ngoại của bà, điều này xác giúp định có yếu tố thừa kế thế vị (nếu mất trước ông bà ngoại của bà).

Nhưng về nguyên tắc chia thừa kế thì chia sẻ cùng bà để bà rõ như sau:

Theo quy định tại Điều 613, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Người thừa kế: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.

Trường hợp 1: Nếu như mẹ và cậu Năm của bà mất trước thời điểm mở thừa kế (tức trước khi ông bà ngoại của bà mất) thì bà và anh chị em ruột của bà nếu có, sẽ thuộc trường hợp thừa kế thế vị của mẹ bà; các con của cậu Năm của bà nếu có, cũng là người thừa kế thế vị của cậu Năm bà. Theo Điều 652 BLDS 2015, nếu con chết trước cha, mẹ, thì cháu được thế vị để hưởng phần di sản mà lẽ ra người thừa kế là con được hưởng, nếu còn sống. Trường hợp này, Di sản của ông bà ngoại bà sẽ chia đều cho 06. Mỗi người con của ông bà ngoại được hưởng suất thừa kế bằng 1/6 tổng giá trị di sản. Anh, chị, em bà được 01 suất; các con của cậu Năm bà được 01 suất; 02 cậu và 02 dì của bà, mỗi người được 01 suất. Nhưng nếu cậu Năm của bà không có con, và cũng không có cháu, thì cậu Năm của bà không được hưởng thừa kế, vì chết trước người để lại di sản. Lúc đó, di sản của ông bà ngoại của bà chỉ chia làm 05 suất, trong đó 02 dì, 02 cậu của bà được 04 suất, anh/chị/em ruột của bà được 01 suất. Mỗi suất bằng 1/5 tổng di sản.

Trường hợp 2: Còn nếu ông bà ngoại bà mất trước mẹ bà, và cậu Năm của bà, thì di sản của ông bà ngoại chia cho 06 suất. Mỗi người con của ông bà ngoại được 01 suất.

Suất của mẹ bà sẽ do người thừa kế hợp pháp của mẹ bà (gồm cha bà nếu còn sống, và tất cả các anh chị em của bà được hưởng thừa kế chuyển tiếp từ phần mà mẹ bà được thừa kế, nhưng chưa được nhận).

Suất của cậu Năm bà thì những người thừa kế hợp pháp của cậu Năm bà được hưởng, tương tự như trường hợp của mẹ bà. Nếu cậu Năm không có vợ, con… thì phần của cậu Năm sẽ do người thừa kế hàng thứ hai của cậu Năm , gồm anh, chị em ruột của cậu Năm được hưởng theo quy định của pháp luật. Nếu mẹ bà chết trước cậu Năm, thì mẹ bà không được hưởng chuyển tiếp phần thừa kế của cậu Năm. Nếu mẹ bà chết sau cậu Năm , thì mẹ bà cũng được hưởng chuyển tiếp 01 suất hàng thừa kế thứ hai của cậu Năm , như cậu dì khác; và anh chị, em của bà cũng lại được hưởng chuyển tiếp phần này.

Vấn đề cuối cùng là ai đứng tên để xin cấp Giấy chứng nhận? Về vấn đề này, thì tất cả những người đủ điều kiện để hưởng thừa kế sẽ cùng đến tổ chức hành nghề công chứng để thỏa thuận phân chia di sản. Dựa vào văn bản thỏa thuận đó, tất cả những người thừa kế hợp pháp được cùng nhau đi khai di sản, hoặc có thể tách thửa để hưởng thừa kế riêng theo hiện vật, hoặc có thể hưởng chung và ủy quyền cho 01 trong số những người thừa kế đại diện để đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung… theo quy định của pháp luật.

Thân chào bà Mai Anh.

Nguyễn Chí Thiện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *